KỸ NĂNG SÁNG TÁC CỬ ĐIỆU MỘT BÀI HÁT SINH HOẠT GIÁO LÝ

| |
I. PHÂN LOẠI VÀ NHẬN ĐỊNH:Loại bài hát suông: Trong một số nghi thức như: câu chuyện dưới cờ, câu chuyện tàn lửa ở đất trại, tĩnh tâm cầu nguyện của giới trẻ, để giữ bầu khí thiêng liêng và một khoảnh khắc thinh lặng nội tâm, Linh Hoạt Viên yêu cầu mọi người đứng nghiêm trang, hướng dẫn vài lời đưa vào chủ đề, mời hát chậm rãi, vừa đủ nghe, không vỗ tay, không làm động tác hay cử điệu.
Ví dụ:     Anh em chúng ta chung một đường lên, chung một đường lên đến nơi Nguồn thật...
 


Trong đêm u tối chúng ta ngồi quây quần, lửa hồng soi bóng...
        Loại bài hát có vỗ tay: Trong sinh hoạt, để gây bầu khí vui tươi nhộn nhịp, Linh Hoạt Viên có thể đề nghị vỗ tay theo nhịp hoặc theo tiết tấu của bài hát, vỗ toàn bài hay chỉ vỗ cuối câu, hoặc chỉ vỗ ở một số từ nào đó trong câu thay vì hát thành lời.

Ví dụ:     Tang tang tang tình tang tính, ta ca ta hát vang lên...
              Vỗ tay, vỗ tay, cùng nhau hát mà vui cười...
        Loại bài hát có động tác: Trong sinh hoạt, Linh Hoạt Viên có thể dùng các động tác đơn giản, dứt khoát, kèm theo từng câu của Bài Hát Sinh Hoạt, thường là 4 động tác ( nếu là nhịp 2/4 và 4/4 ) hoặc 3 động tác ( nếu là nhịp 3/4 ) cứ lập đi lập lại, ăn với các phách mạnh nhẹ của câu nhạc. Loại bài hát này có tác dụng gây bầu khí sôi nổi, giúp thư giãn, tỉnh ngủ khi phải ngồi mỗi một chỗ đã lâu.

Ví dụ:     Lu lu lá lù, lù lá lu là lu la lế...
              Ta hát to hát nhỏ nhò nho...
        Loại bài hát có vũ điệu: Loại bài dùng làm các tiết mục trình diễn của một Nhóm, một Đội, hay một toán bạn trẻ trên các sân khấu bỏ túi, văn nghệ quần chúng, hoặc trong các dịp đốt lửa trại. Vì mang nhiều tính nghệ thuật nên cần phải được tập luyện nhuần nhuyễn, đạt mức độ tương đối khá về nghệ thuật.

Ví dụ:      Anh em ta về cùng nhau ta quây quần nè, 1 2 3 4 5...
              Tình bằng có cái trống cơm khen ai khéo vỗ...
        Loại bài hát có cử điệu: Loại Bài Hát Sinh Hoạt đặc biệt này cho tới nay vẫn còn ít được sử dụng. Thật ra, dạng này rất dễ sáng tác, dễ lồng các cử điệu vào, lại dễ tập cho cả tập thể đứng vòng tròn hoặc ngồi hoặc đứng ngay trong lớp học. Mọi lứa tuổi đều có thể tham gia một cách hứng thú, sinh động, gây ấn tượng sâu xa nhờ ý nghĩa của lời hát được minh họa bằng các cử điệu đơn sơ gần gũi với đời sống thường nhật.
Ví dụ:     Người khôn xây trên đá ngôi nhà chắc chắn và xinh...
              Chiều nay em đi câu cá và mang rá theo bắt cua...
              Có năm người ở Ô Không May, đó là người em chưa thương mến...
              Thà rằng đốt lên ngọn lửa cháy, thà rằng đốt lên cây đèn sáng...

II. ĐỊNH NGHĨA BÀI HÁT CÓ CỬ ĐIỆU:
        Cử chỉ: Cách làm, cách mô tả, cách minh họa, cách diễn đạt một sự vật, một sự việc hay một ý tưởng trừu tượng cũng như thiêng liêng bằng đôi bàn tay.
        Dáng điệu: Vẻ bề ngoài của khuôn mặt, của toàn thân mình luôn ăn khớp với nhịp độ của các động tác, của giai điệu bài hát cũng như ý tưởng từng lời của bài hát.
        Vậy, Bài Hát có Cử Điệu chính là một dạng bài hát ngắn có kèm theo các cử chỉ và dáng điệu đơn giản rõ nét, để diễn tả tối đa nội dung của từng câu, từng ý trong bài hát.

III. GIÁ TRỊ CỦA CỬ ĐIỆU:
Các cử điệu mang tính cách tế nhị, kín đáo, lại vừa phong phú về mặt biểu hiện cảm xúc của người Đông Phương ( Ấn Độ, Trung Hoa, Nhật Bản, Đại Hàn, Việt Nam... ) thì các cử điệu, dẫu không dùng đến lời nói, vẫn có thể diễn đạt nhiều ý tứ sâu sắc.

Thậm chí, các cử điệu còn được ứng dụng một cách tự nhiên trong việc giáo dục nhân bản và tâm linh không chỉ đối với trẻ em mà cho cả người lớn trong các mối tương quan với chính mình, với tha nhân, với thiên nhiên và với Thượng Đế. Cử điệu diễn tả lòng tri ân, sự kính trọng, quan niệm sống bác ái, vui tươi lạc quan... Cử điệu giúp bầy tỏ những tính cách và ước nguyện kín ẩn của nội tâm như vâng phục, khiêm tốn, hồn nhiên trong sáng... Với tín ngưỡng, cử điệu có thể thay cho một lời tuyên xưng về các nhân đức như
xác tín, phó thác, yêu mến...
IV. CHUẨN BỊ CHO MỘT BÀI HÁT CÓ CỬ ĐIỆU:

Để đạt được thành công, Linh Hoạt Viên cần ý thức về bầu khí, về khung cảnh, về đối tượng tham gia, về mục tiêu nhắm tới để chuẩn bị cho xứng hợp. Cần chú ý các yếu tố sau đây:
        Về Bài Hát Sinh Hoạt: nên sáng tác hoặc chọn các bài hát ngắn, cân phương, 4 hoặc 8 câu, có âm vận, có ý tứ đơn giản dễ thương, trải ra trong 16 trường canh, theo nhịp 2/4 tươi tắn khỏe mạnh hoặc nhịp 3/4 duyên dáng nhẹ nhàng.
        Về cử điệu kèm theo: mỗi câu hát chỉ nên chọn minh họa bằng 1 hoặc 2 cử điệu đơn giản, nhịp ăn khớp với tiết tấu nhạc, thường sử dụng các ngón tay, bàn tay, cánh tay, phối hợp với động tác chân và sự di chuyển thân mình, đồng thời hài hòa với ánh mắt và nét mặt.
        Về tập thể tham dự: nên chọn hình thức vòng tròn cho sinh hoạt ngoài trời, bán cung nếu nhắm đến một nghi thức như cầu nguyện, tĩnh tâm, cũng đôi khi phải ứng biến ngay trong lớp học.
        Về Linh Hoạt Viên: nên hát mẫu kèm theo cử điệu mẫu một cách chậm rãi rõ ràng, tập cho tập thể, sau đó làm nháp và chính thức. Có thể cho điểm số 1–2, nếu cần có các cặp làm cử điệu đối xứng. Có thể giới thiệu ý nghĩa bài hát trước hoặc sau khi đã cùng làm.

V. DIỄN XUẤT CÁC CỬ ĐIỆU:

Linh Hoạt Viên đòi hỏi có nhiều sáng kiến, biến báo và có tâm hồn sâu sắc, giàu cảm xúc, nên có thể dễ dàng chọn, sáng tác và thể hiện các cử điệu cho đúng ý nghĩa, cân đối, duyên dáng, đạt mức nghệ thuật tối thiểu. Dưới đây là một số nguyên tắc cần lưu ý về các cử điệu:
        Thống nhất đầu-cuối: nhanh hay chậm, dí dỏm hay trang trọng, sôi nổi hay dịu dàng, sao cho thích hợp với nội dung và tính cách của bài hát, tuy vậy đôi khi vẫn có thể thay đổi nhịp độ và tiết điệu để gây ấn tượng, đồng thời kết hợp các tiếng hò, tiếng hô, tiếng gọi, băng reo để tạo bầu khí sinh động.
        Thứ tự trái-phải: tay trái thường làm trước tay phải, chân trái cũng bước trước chân phải, do vậy thân mình cũng quay sang trái trước rồi quay sang phải sau.
        Đối xứng trước-sau: cử điệu thường sẽ được đưa lên rồi lại đưa xuống đưa sang trái rồi lại đưa sang phải, vươn tới trước rồi lại thu về phía mình, mở rộng ra ngoài rồi lại kéo vào trong.
Với 3 yếu tố căn bản nêu trên, các cử điệu cần phải liền lạc, không đứt quãng đột ngột, tất cả làm thành một chu kỳ diến diễn hài hòa, đẹp mắt mà lại có ý nghĩa.

VI. HIỆU QUẢ CỦA BÀI HÁT CÓ CỬ ĐIỆU:

Bài hát có cử điệu thường được các Linh Hoạt Viên vận dụng nhằm các mục đích như sau:
        Xáo trộn vị trí: một số bài có cử điệu sẽ khéo léo xáo trộn chỗ của mỗi người trong vòng tròn một cách tự nhiên, không gượng ép, tránh được việc cụm lại thành các Nhóm nam-nữ riêng rẽ.
        Gây dựng bầu khí: bài hát có cử điệu luôn tạo được sự vui tươi linh hoạt, làm nên tâm tình hiệp nhất trong tập thể, xóa nhòa mọi cách biệt tuổi tác, phái tính, trình độ và tâm lý bỡ ngỡ hoặc khép kín trong các dịp họp mặt, lửa trại, sinh hoạt vòng tròn ngoài trời...

        Góp phần giáo dục: bài hát có cử điệu chuyển tải được các nội dung giáo dục hướng thượng và vị tha một cách nhẹ nhàng mà lại thấm thía, tránh được kiểu nói nặng về huấn đức khô khan.
        Minh họa sứ điệp: bài hát có cử điệu trong Giáo Lý thường là các bài ca ý lực, diễn ý các câu Lời Chúa, diễn tả cách đơn giản các mệnh đề tín lý và luân lý, có thể dùng trong sinh hoạt hoặc cầu nguyện ở đầu, ở giữa hay ở cuối tiết dạy Giáo Lý.
Lm. LÊ QUANG UY, DCCT, trích NỐI LỬA CHO ĐỜI số 1
trại, tĩnh tâm cầu nguyện của giới trẻ, để giữ bầu khí thiêng liêng và một khoảnh khắc thinh lặng nội tâm, Linh Hoạt Viên yêu cầu mọi người đứng nghiêm trang, hướng dẫn vài lời đưa vào chủ đề, mời hát chậm rãi, vừa đủ nghe, không vỗ tay, không làm động tác hay cử điệu.Ví dụ:     Anh em chúng ta chung một đường lên, chung một đường lên đến nơi Nguồn thật...              Trong đêm u tối chúng ta ngồi quây quần, lửa hồng soi bóng...        nghị vỗ tay theo nhịp hoặc theo tiết tấu của bài hát, vỗ toàn bài hay chỉ vỗ cuối câu, hoặc chỉ vỗ ở một số từ nào đó trong câu thay vì hát thành lời.Ví dụ:     Tang tang tang tình tang tính, ta ca ta hát vang lên...              Vỗ tay, vỗ tay, cùng nhau hát mà vui cười...        khoát, kèm theo từng câu của Bài Hát Sinh Hoạt, thường là 4 động tác ( nếu là nhịp 2/4 và 4/4 ) hoặc 3 động tác ( nếu là nhịp 3/4 ) cứ lập đi lập lại, ăn với các phách mạnh nhẹ của câu nhạc. Loại bài hát này có tác dụng gây bầu khí sôi nổi, giúp thư giãn, tỉnh ngủ khi phải ngồi mỗi một chỗ đã lâu.Ví dụ:     Lu lu lá lù, lù lá lu là lu la lế...              Ta hát to hát nhỏ nhò nho...        toán bạn trẻ trên các sân khấu bỏ túi, văn nghệ quần chúng, hoặc trong các dịp đốt lửa trại. Vì mang nhiều tính nghệ thuật nên cần phải được tập luyện nhuần nhuyễn, đạt mức độ tương đối khá về nghệ thuật.Ví dụ:      Anh em ta về cùng nhau ta quây quần nè, 1 2 3 4 5...              Tình bằng có cái trống cơm khen ai khéo vỗ...        Thật ra, dạng này rất dễ sáng tác, dễ lồng các cử điệu vào, lại dễ tập cho cả tập thể đứng vòng tròn hoặc ngồi hoặc đứng ngay trong lớp học. Mọi lứa tuổi đều có thể tham gia một cách hứng thú, sinh động, gây ấn tượng sâu xa nhờ ý nghĩa của lời hát được minh họa bằng các cử điệu đơn sơ gần gũi với đời sống thường nhật.Ví dụ:     Người khôn xây trên đá ngôi nhà chắc chắn và xinh...              Chiều nay em đi câu cá và mang rá theo bắt cua...              Có năm người ở Ô Không May, đó là người em chưa thương mến...              Thà rằng đốt lên ngọn lửa cháy, thà rằng đốt lên cây đèn sáng...        trừu tượng cũng như thiêng liêng bằng đôi bàn tay.        tác, của giai điệu bài hát cũng như ý tưởng từng lời của bài hát.        Vậy, Bài Hát có Cử Điệu chính là một dạng bài hát ngắn có kèm theo các cử chỉ và dáng điệu đơn giản rõ nét, để diễn tả tối đa nội dung của từng câu, từng ý trong bài hát.Các cử điệu mang tính cách tế nhị, kín đáo, lại vừa phong phú về mặt biểu hiện cảm xúc của người Đông Phương ( Aán Độ, Trung Hoa, Nhật Bản, Đại Hàn, Việt Nam... ) thì các cử điệu, dẫu không dùng đến lời nói, vẫn có thể diễn đạt nhiều ý tứ sâu sắc.Thậm chí, các cử điệu còn được ứng dụng một cách tự nhiên trong việc giáo dục nhân bản và tâmkhông chỉ đối với trẻ em mà cho cả người lớn trong các mối tương quan với chính mình, với tha nhân, với Để đạt được thành công, Linh Hoạt Viên cần ý thức về bầu khí, về khung cảnh, về đối tượng tham gia, về mục tiêu nhắm tới để chuẩn bị cho xứng hợp. Cần chú ý các yếu tố sau đây:        vận, có ý tứ đơn giản dễ thương, trải ra trong 16 trường canh, theo nhịp 2/4 tươi tắn khỏe mạnh hoặc nhịp 3/4 duyên dáng nhẹ nhàng.        khớp với tiết tấu nhạc, thường sử dụng các ngón tay, bàn tay, cánh tay, phối hợp với động tác chân và sự di chuyển thân mình, đồng thời hài hòa với ánh mắt và nét mặt.        một nghi thức như cầu nguyện, tĩnh tâm, cũng đôi khi phải ứng biến ngay trong lớp học.        sau đó làm nháp và chính thức. Có thể cho điểm số 1–2, nếu cần có các cặp làm cử điệu đối xứng. Có thể giới thiệu ý nghĩa bài hát trước hoặc sau khi đã cùng làm.Linh Hoạt Viên đòi hỏi có nhiều sáng kiến, biến báo và có tâm hồn sâu sắc, giàu cảm xúc, nên có thể dễ dàng chọn, sáng tác và thể hiện các cử điệu cho đúng ý nghĩa, cân đối, duyên dáng, đạt mức nghệ thuật tối thiểu. Dưới đây là một số nguyên tắc cần lưu ý về các cử điệu:        hợp với nội dung và tính cách của bài hát, tuy vậy đôi khi vẫn có thể thay đổi nhịp độ và tiết điệu để gây ấn tượng, đồng thời kết hợp các tiếng hò, tiếng hô, tiếng gọi, băng reo để tạo bầu khí sinh động.        mình cũng quay sang trái trước rồi quay sang phải sau.        phải, vươn tới trước rồi lại thu về phía mình, mở rộng ra ngoài rồi lại kéo vào trong.Với 3 yếu tố căn bản nêu trên, các cử điệu cần phải liền lạc, không đứt quãng đột ngột, tất cả làm thành một chu kỳ diến diễn hài hòa, đẹp mắt mà lại có ý nghĩa.Bài hát có cử điệu thường được các Linh Hoạt Viên vận dụng nhằm các mục đích như sau:        cách tự nhiên, không gượng ép, tránh được việc cụm lại thành các Nhóm nam-nữ riêng rẽ.        trong tập thể, xóa nhòa mọi cách biệt tuổi tác, phái tính, trình độ và tâm lý bỡ ngỡ hoặc khép kín trong các dịp họp mặt, lửa trại, sinh hoạt vòng tròn ngoài trời...        tha một cách nhẹ nhàng mà lại thấm thía, tránh được kiểu nói nặng về huấn đức khô khan.        Chúa, diễn tả cách đơn giản các mệnh đề tín lý và luân lý, có thể dùng trong sinh hoạt hoặc cầu nguyện ở đầu, ở giữa hay ở cuối tiết dạy Giáo Lý

Đọc tiếp ...

KỸ NĂNG LÀM XƯỚNG NGÔN VIÊN ( SPEAKER – MC )

| |
 

Chúng ta có thể nhận thấy, hiện nay, trong mọi chương trình từ các dạng sinh hoạt chuyên nghiệp như văn nghệ sân khấu, lễ hội sân khấu hóa, các shows trên truyền thanh, truyền hình... đến các dạng nghi lễ khánh thành, bế giảng, động thổ, tang ma, cưới hỏi, bổn mạng, sinh nhật, ngân khánh, kim khánh hôn phối... hoặc trong các buổi sinh hoạt tập thể có đông đảo quần chúng tham dự như một buổi văn nghệ dã chiến, đêm lửa trại truyền thống, đại hội liên hoan, giao lưu văn hóa, bán đấu giá gây quỹ từ thiện... luôn luôn có sự xuất hiện của một Xướng Ngôn Viên (
Speaker ).

Một cách nào đó, có thể nói, nếu gạn lọc các khía cạnh thuần túy sân khấu đi, thì đối với các nghi lễ tôn giáo, công việc hướng dẫn cộng đoàn của một Linh Hoạt Viên Phụng Vụ ( Animateur Liturgique ) trong một Thánh Lễ bình thường, hoặc của một Chưởng Nghi ( MC – Master of Ceremony ) trong một Thánh Lễ đặc biệt trang trọng, có khá nhiều yếu tố giống với công việc của một Xướng Ngôn Viên chương trình ngoài xã hội.

Rõ ràng, chương trình càng quan trọng bao nhiêu thì vai trò của Xướng Ngôn Viên lại càng cần thiết bấy nhiêu. Vậy, chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu về vai trò, nhiệm vụ, tiêu chuẩn, phong cách và các trang bị cần thiết
cho một Xướng Ngôn Viên.

Bài khóa này được biên soạn dựa theo tài liệu đào tạo của trường Văn Hóa Nghệ Thuật, cùng với những kinh nghiệm thực tế của các Huynh Trưởng và Linh Hoạt Viên có được từ các dịp sinh hoạt với giới trẻ, thiếu nhi Giáo Lý và cộng đoàn Giáo Dân các Xứ Đạo hoặc cấp Giáo Phận.

II.
VAI TRÒ CỦA MỘT XƯỚNG NGÔN VIÊN:

1.
LÀ NGƯỜI GIỚI THIỆU CHƯƠNG TRÌNH:
Xướng Ngôn Viên có trong tay toàn bộ chương trình các phần, các tiết mục theo thứ tự diễn tiến từ khai mạc cho đến bế mạc, từ đó sẽ giữ vai trò xuất hiện để giới thiệu từng tiết mục cho khán thính giả hoặc quần chúng tham dự.

2.
LÀ NGƯỜI DẪN DẮT CHƯƠNG TRÌNH:
Xướng Ngôn Viên chịu trách nhiệm có tính quyết định về hiệu quả toàn bộ chương trình, làm cho chủ đề đưa ra được mọi người có thể nhận thấy luôn ẩn chứa đậm nét xuyên suốt qua các phần, các tiết mục của chương trình.

3.
LÀ NGƯỜI ĐIỀU KHIỂN CHƯƠNG TRÌNH:

Xướng Ngôn Viên có khả năng gây bầu khí cho toàn bộ chương trình bằng cách tạo ra các đột biến cao trào phấn khởi hay lắng đọng sâu xa nhằm thu hút, lôi cuốn mọi người theo một tiết tấu có tính toán trước một cách khéo léo và chu đáo.

4.
LÀ DIỄN VIÊN ĐẶC BIỆT CỦA CHƯƠNG TRÌNH:

Nếu các diễn viên khác chỉ ra biểu diễn một lần thì mọi người lại có thể gặp Xướng Ngôn Viên rất nhiều lần từ đầu đến cuối chương trình, do vậy, cần có những nét mới, duyên dáng, hấp dẫn, lôi cuốn và gây được cảm xúc mới. Tiết mục của Xướng Ngôn Viên tuy ngắn ngủi thoáng qua, không quá 1, 2 phút nhưng lại có thể làm nổi bật hơn những tiết mục khác vừa diễn xong hoặc sắp diễn trong chương trình.

Nghệ thuật của Xướng Ngôn Viên là nghệ thuật của ngôn ngữ và cử điệu, do vậy, nếu bản thân có thêm được các kỹ năng ca, múa, kịch, kịch câm thì càng dễ thành công.

III. NHIỆM VỤ CỦA MỘT XƯỚNG NGÔN VIÊN:

1.
LÀM RÕ Ý NGHĨA TỪNG TIẾT MỤC:
Mỗi tiết mục là một thành phần, một diễn ý của chủ đề chung của toàn bộ chương trình. Do vậy, Xướng Ngôn Viên cần chuẩn bị trước phần thuyết minh cho tiết mục đó sao cho ý nghĩa được khơi gợi lên gắn bó sâu xa nhưng tự nhiên với yêu cầu hàm chứa của chủ đề.

2.
ĐỊNH HƯỚNG CẢM XÚC, THẨM MỸ CỦA KHÁN GIẢ:

Xướng Ngôn Viên đóng góp phần khá lớn vào việc giúp khán thính giả nhận ra cái đúng, cái hay, cái đẹp, thậm chí có thể điều chỉnh được cả những thành kiến không tốt của dư luận quần chúng đối với thể loại nghệ thuật, đối với tác phẩm, tác giả, và có khi cả đối với diễn viên sắp biểu diễn.

3.
GIỚI THIỆU THÔNG TIN:

§ Xướng Ngôn Viên cần diễn tả được mục đích, sự kiện, lý do hình thành chương trình: bác ái từ thiện, giao lưu văn hóa, mừng Đại Lễ Vượt Qua, Giáng Sinh, tiệc cưới, mừng tân chức Linh Mục, bế giảng niên khóa Giáo Lý, Đêm Lửa Trại...

§ Xướng Ngôn Viên trình bày vắn tắt về tác phẩm: thể loại nghệ thuật, hoàn cảnh ra đời, thời điểm, ý nghĩa lúc ra đời và hiện tại, được yêu thích thế nào, có tác dụng ra sao, đã đạt được giải thưởng gì...
§ Xướng Ngôn Viên lược tóm đôi nét về tác giả: cuộc đời và quá trình sáng tác, khuynh hướng nghệ thuật, cảm xúc khi viết tác phẩm...
§ Xướng Ngôn Viên giới thiệu về diễn viên hay Nhóm diễn viên đang hoặc sắp ra sân khấu: cuộc đời và quá trình hoạt động nghệ thuật, hiện đang được dư luận đánh giá thế nào. Cần chú ý đến mối liên hệ giữa diễn viên – tác giả – tác phẩm và quần chúng.
§ Xướng Ngôn Viên làm thư giãn bầu khí: kể một mẩu truyện vui, phỏng vấn bỏ túi bằng những câu hỏi liên quan đến chủ đề, đến tiết mục vừa diễn hoặc sắp diễn với diễn viên, tác giả, đạo diễn, và với khán thính giả...
§ Xướng Ngôn Viên phải có khả năng biến báo, ứng xử duyên dáng, dí dỏm để có thể xử lý các tình huống đột xuất, bất ưng xẩy ra trên sân khấu như mất điện, mất âm thanh, diễn viên vấp chân hoặc chậm ra sân khấu...

IV. TIÊU CHUẨN VÀ NĂNG LỰC CỦA XƯỚNG NGÔN VIÊN:

· Xướng Ngôn Viên cần có nhân dáng đẹp, duyên dáng, ăn mặc lịch sự, đôi khi chính nhờ vào chiều cao hay thấp, vóc người mập hay gầy mà tạo thêm nét đặc thù lôi cuốn.
· Xướng Ngôn Viên cần nhất là có giọng nói dễ nghe, truyền cảm, bắt micro, rõ, chuẩn, không bị đớt hay ngọng, không nói pha nhiều giọng địa phương...
· Xướng Ngôn Viên cần biết sử dụng ngôn ngữ, ít nhất là không dùng từ sai nghĩa, hàm hồ lệch ý, thừa hay thiếu từ, phát âm chuẩn về Việt ngữ và ngoại ngữ, biết cách ngắt chữ, ngắt câu chính xác...
· Xướng Ngôn Viên cần nhạy cảm với tâm lý chung và yêu cầu của khán giả, vốn dĩ là đối tượng chính của chương trình: muốn giải trí, thưởng thức, giao lưu, đón nhận một cảm xúc nào đó liên quan đến chủ đề...
· Xướng Ngôn Viên cần có khả năng hiểu và phân tích được tác phẩm: kiến thức tương đối vững, sâu rộng, nắm bắt được các thông tin và dư luận mới nhất liên quan đến tác giả và tác phẩm vừa diễn xong hoặc sắp diễn...
· Xướng Ngôn Viên cần có khả năng thích ứng nhanh, chính xác, thông minh, có óc hài hước, dí dỏm nhưng tế nhị và duyên dáng trong các tình huống đột ngột bất ưng, hóa giải mọi phức tạp thành ra đơn giản, tránh nói cương dài–dai–dại... có thể xúc phạm đến người khác.
· Xướng Ngôn Viên nếu có thêm được một số kỹ năng phụ trợ như: kể truyện, làm băng reo, hò bằng thơ lục bát, thổi harmonica, ca, múa, đóng kịch dạng tiểu phẩm, giả tiếng, nói lái... để có thể tung hứng với các diễn viên, pha trò, gây bầu khí chung mỗi khi xuất hiện trên sân khấu, nhưng chú ý đừng kéo dài lê thê.

V. PHONG CÁCH VÀ TRANG PHỤC CỦA XƯỚNG NGÔN VIÊN:

1.
CHƯƠNG TRÌNH VĂN NGHỆ:

Vì liên quan nhiều đến nghệ thuật, phong cách và ngôn ngữ của Xướng Ngôn Viên cần gợi lên được những hình tượng nghệ thuật, gây được xúc cảm nơi người thưởng thức, cũng có thể đôi khi pha chút dí dỏm để bầu khí được cởi mở thư giãn. Trang phục nên lịch sự, tự nhiên, tránh không quá điệu hoặc quá nghiêm trọng cứng ngắc, gây ra sự thô thiển, lố bịch.

2.
CHƯƠNG TRÌNH NGHI LỄ:

Trong các dịp cần bầu khí long trọng như: khai giảng, khánh thành, bế mạc, đại hội, ngày truyền thống, cử hành một buổi cầu nguyện ( célébration de la prière ), tổ chức một đêm Lửa Dặm Đường trong Hướng Đạo, phát bằng tốt nghiệp... Xướng Ngôn Viên cần có phong cách trang trọng, nghiêm túc và chính xác, nhưng vẫn mang dáng dấp nghệ thuật cao. Trang phục nên tề chỉnh, gọn gàng.

( Ảnh chụp Lễ Hội Đâm Trâu Tây Nguyên nhân ngày Lễ Khánh Thành Trung Tâm Truyền Giáo DCCT Pleichuet, thuộc Giáo Phận Kontum, ngày 1.8.2005 vừa qua ).

3.
CHƯƠNG TRÌNH GIAO LƯU:

Trong các dịp giao lưu văn hóa, giới thiệu tài năng, tác phẩm, tác giả hoặc một nhân vật đặc biệt, Xướng Ngôn Viên cần có phong cách ngôn ngữ tự nhiên, lịch sự, pha chút dí dỏm và ngẫu hứng, nhưng tối kỵ không được để lộ ra một sự xếp đặt từ trước. Trang phục có thể tùy nghi, trẻ trung nhưng vẫn cần tề chỉnh.
4. CHƯƠNG TRÌNH HỘI THI:

Trong các dịp tổ chức đố vui Giáo Lý tại Giáo Xứ, đố vui để học tại trường học hoặc lên truyền hình như các chương trình Trò Chơi Liên Tỉnh SV 97 ( đại học ), Bẩy Sắc Cầu Vồng ( cấp 3 ), Kính Vạn Hoa ( cấp 2 ), Khu Vườn Cổ Tích ( mẫu giáo ), Đường Lên Đỉnh Olympia... Xướng Ngôn Viên cần có phong cách nghiêm minh, ngôn ngữ chính xác, dứt khoát mà vẫn lịch sự, có thể pha trò trong những trường hợp cần thiết. Trang phục tùy nghi, sao cho hợp với các đối tượng tham dự.

VI. VIẾT THUYẾT MINH:

Trọng tâm của công việc này là cố gắng làm nổi bật chủ đề chương trình mà những người đứng ra tổ chức muốn gửi gấm. Mặt khác, còn tùy vào tính chất chương trình như đã nêu ở phần trên để chọn phong cách nghệ thuật và khẩu ngữ, hành chánh hay khoa học cho thích hợp. Do vậy, Xướng Ngôn Viên cần soạn vắn tắt bản thuyết minh trên những tờ phiếu nhỏ có đánh số ký hiệu cho từng phần trọng tâm cần có độ nhấn, từng tiết mục theo thứ tự biểu diễn sao cho yêu cầu của chủ đề được thể hiện xuyên suốt toàn bộ chương trình, định hướng cảm xúc và thẩm mỹ của khán giả một cách nhẹ nhàng khéo léo.

Cũng có thể ứng biến ngẫu hứng, giới thiệu thêm một số thông tin hoặc thời sự bên lề mới nhất, kèm theo một vài ý, một vài câu pha trò duyên dáng làm thu giãn bầu khí.

Trong trường hợp Xướng Ngôn Viên là một Linh Hoạt Viên Phụng Vụ hay một Chưởng Nghi trong một nghi lễ tôn giáo, cần soạn một bản hướng dẫn chi tiết: ý nghĩa chung của buổi lễ, ý nghĩa các bài đọc Lời Chúa, các bài Thánh Ca, các lời nguyện cộng đoàn và các nghi thức trang trọng đặc biệt khác ( như đón đoàn chủ tế, rước kiệu hành hương, xông hương, rẩy nước phép, lắc chuông, tắt đèn, thắp nến, đặt tay trao sứ vụ, các tân chức phủ phục, các em học sinh Giáo Lý lên tuyên tín hoặc nhận Bí Tích... ), cần ghi rõ lời mời cộng đoàn tiến lên theo hàng, đứng, ngồi hay quỳ xuống...
Lm. LÊ QUANG UY, trích NỐI LỬA CHO ĐỜI số 1
Chúng ta có thể nhận thấy, hiện nay, trong mọi chương trình từ các dạng sinh hoạt chuyên nghiệp như văn nghệ sân khấu, lễ hội sân khấu hóa, các shows trên truyền thanh, truyền hình... đến các dạng nghi lễ khánh thành, bế giảng, động thổ, tang ma, cưới hỏi, bổn mạng, sinh nhật, ngân khánh, kim khánh hôn phối... hoặc trong các buổi sinh hoạt tập thể có đông đảo quần chúng tham dự như một buổi văn nghệ dã chiến, đêm lửa trại truyền thống, đại hội liên hoan, giao lưu văn hóa, bán đấu giá gây quỹ từ thiện... luôn luôn có sự xuất hiện của một Xướng Ngôn Viên (Một cách nào đó, có thể nói, nếu gạn lọc các khía cạnh thuần túy sân khấu đi, thì đối với các nghi lễ tôn giáo, công việc hướng dẫn cộng đoàn của một Linh Hoạt Viên Phụng Vụ ( Animateur Liturgique ) trong một Thánh Lễ bình thường, hoặc của một Chưởng Nghi ( MC – Master of Ceremony ) trong một Thánh Lễ đặc biệt trang trọng, có khá nhiều yếu tố giống với công việc của một Xướng Ngôn Viên chương trình ngoài xã hội.Rõ ràng, chương trình càng quan trọng bao nhiêu thì vai trò của Xướng Ngôn Viên lại càng cần thiết bấy nhiêu. Vậy, chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu về vai trò, nhiệm vụ, tiêu chuẩn, phong cách và các trang bị cần thiếtBài khóa này được biên soạn dựa theo tài liệu đào tạo của trường Văn Hóa Nghệ Thuật, cùng với những kinh nghiệm thực tế của các Huynh Trưởng và Linh Hoạt Viên có được từ các dịp sinh hoạt với giới trẻ, thiếu nhi Giáo Lý và cộng đoàn Giáo Dân các Xứ Đạo hoặc cấp Giáo Phận. Xướng Ngôn Viên có trong tay toàn bộ chương trình các phần, các tiết mục theo thứ tự diễn tiến từ khai mạc cho đến bế mạc, từ đó sẽ giữ vai trò xuất hiện để giới thiệu từng tiết mục cho khán thính giả hoặc quần chúng tham dự. Xướng Ngôn Viên chịu trách nhiệm có tính quyết định về hiệu quả toàn bộ chương trình, làm cho chủ đề đưa ra được mọi người có thể nhận thấy luôn ẩn chứa đậm nét xuyên suốt qua các phần, các tiết mục của chương trình. Xướng Ngôn Viên có khả năng gây bầu khí cho toàn bộ chương trình bằng cách tạo ra các đột biến cao trào phấn khởi hay lắng đọng sâu xa nhằm thu hút, lôi cuốn mọi người theo một tiết tấu có tính toán trước một cách khéo léo và chu đáo. Nếu các diễn viên khác chỉ ra biểu diễn một lần thì mọi người lại có thể gặp Xướng Ngôn Viên rất nhiều lần từ đầu đến cuối chương trình, do vậy, cần có những nét mới, duyên dáng, hấp dẫn, lôi cuốn và gây được cảm xúc mới. Tiết mục của Xướng Ngôn Viên tuy ngắn ngủi thoáng qua, không quá 1, 2 phút nhưng lại có thể làm nổi bật hơn những tiết mục khác vừa diễn xong hoặc sắp diễn trong chương trình.Nghệ thuật của Xướng Ngôn Viên là nghệ thuật của ngôn ngữ và cử điệu, do vậy, nếu bản thân có thêm được các kỹ năng ca, múa, kịch, kịch câm thì càng dễ thành công. Mỗi tiết mục là một thành phần, một diễn ý của chủ đề chung của toàn bộ chương trình. Do vậy, Xướng Ngôn Viên cần chuẩn bị trước phần thuyết minh cho tiết mục đó sao cho ý nghĩa được khơi gợi lên gắn bó sâu xa nhưng tự nhiên với yêu cầu hàm chứa của chủ đề. Xướng Ngôn Viên đóng góp phần khá lớn vào việc giúp khán thính giả nhận ra cái đúng, cái hay, cái đẹp, thậm chí có thể điều chỉnh được cả những thành kiến không tốt của dư luận quần chúng đối với thể loại nghệ thuật, đối với tác phẩm, tác giả, và có khi cả đối với diễn viên sắp biểu diễn. § Xướng Ngôn Viên cần diễn tả được mục đích, sự kiện, lý do hình thành chương trình: bác ái từ thiện, giao lưu văn hóa, mừng Đại Lễ Vượt Qua, Giáng Sinh, tiệc cưới, mừng tân chức Linh Mục, bế giảng niên khóa Giáo Lý, Đêm Lửa Trại...§ Xướng Ngôn Viên trình bày vắn tắt về tác phẩm: thể loại nghệ thuật, hoàn cảnh ra đời, thời điểm, ý nghĩa lúc ra đời và hiện tại, được yêu thích thế nào, có tác dụng ra sao, đã đạt được giải thưởng gì...§ Xướng Ngôn Viên lược tóm đôi nét về tác giả: cuộc đời và quá trình sáng tác, khuynh hướng nghệ thuật, cảm xúc khi viết tác phẩm...§ Xướng Ngôn Viên giới thiệu về diễn viên hay Nhóm diễn viên đang hoặc sắp ra sân khấu: cuộc đời và quá trình hoạt động nghệ thuật, hiện đang được dư luận đánh giá thế nào. Cần chú ý đến mối liên hệ giữa diễn viên – tác giả – tác phẩm và quần chúng.§ Xướng Ngôn Viên làm thư giãn bầu khí: kể một mẩu truyện vui, phỏng vấn bỏ túi bằng những câu hỏi liên quan đến chủ đề, đến tiết mục vừa diễn hoặc sắp diễn với diễn viên, tác giả, đạo diễn, và với khán thính giả...§ Xướng Ngôn Viên phải có khả năng biến báo, ứng xử duyên dáng, dí dỏm để có thể xử lý các tình huống đột xuất, bất ưng xẩy ra trên sân khấu như mất điện, mất âm thanh, diễn viên vấp chân hoặc chậm ra sân khấu...· Xướng Ngôn Viên cần có nhân dáng đẹp, duyên dáng, ăn mặc lịch sự, đôi khi chính nhờ vào chiều cao hay thấp, vóc người mập hay gầy mà tạo thêm nét đặc thù lôi cuốn.· Xướng Ngôn Viên cần nhất là có giọng nói dễ nghe, truyền cảm, bắt micro, rõ, chuẩn, không bị đớt hay ngọng, không nói pha nhiều giọng địa phương...· Xướng Ngôn Viên cần biết sử dụng ngôn ngữ, ít nhất là không dùng từ sai nghĩa, hàm hồ lệch ý, thừa hay thiếu từ, phát âm chuẩn về Việt ngữ và ngoại ngữ, biết cách ngắt chữ, ngắt câu chính xác...· Xướng Ngôn Viên cần nhạy cảm với tâm lý chung và yêu cầu của khán giả, vốn dĩ là đối tượng chính của chương trình: muốn giải trí, thưởng thức, giao lưu, đón nhận một cảm xúc nào đó liên quan đến chủ đề...· Xướng Ngôn Viên cần có khả năng hiểu và phân tích được tác phẩm: kiến thức tương đối vững, sâu rộng, nắm bắt được các thông tin và dư luận mới nhất liên quan đến tác giả và tác phẩm vừa diễn xong hoặc sắp diễn...· Xướng Ngôn Viên cần có khả năng thích ứng nhanh, chính xác, thông minh, có óc hài hước, dí dỏm nhưng tế nhị và duyên dáng trong các tình huống đột ngột bất ưng, hóa giải mọi phức tạp thành ra đơn giản, tránh nói cương dài–dai–dại... có thể xúc phạm đến người khác.· Xướng Ngôn Viên nếu có thêm được một số kỹ năng phụ trợ như: kể truyện, làm băng reo, hò bằng thơ lục bát, thổi harmonica, ca, múa, đóng kịch dạng tiểu phẩm, giả tiếng, nói lái... để có thể tung hứng với các diễn viên, pha trò, gây bầu khí chung mỗi khi xuất hiện trên sân khấu, nhưng chú ý đừng kéo dài lê thê. Vì liên quan nhiều đến nghệ thuật, phong cách và ngôn ngữ của Xướng Ngôn Viên cần gợi lên được những hình tượng nghệ thuật, gây được xúc cảm nơi người thưởng thức, cũng có thể đôi khi pha chút dí dỏm để bầu khí được cởi mở thư giãn. Trang phục nên lịch sự, tự nhiên, tránh không quá điệu hoặc quá nghiêm trọng cứng ngắc, gây ra sự thô thiển, lố bịch. Trong các dịp cần bầu khí long trọng như: khai giảng, khánh thành, bế mạc, đại hội, ngày truyền thống, cử hành một buổi cầu nguyện ( célébration de la prière ), tổ chức một đêm Lửa Dặm Đường trong Hướng Đạo, phát bằng tốt nghiệp... Xướng Ngôn Viên cần có phong cách trang trọng, nghiêm túc và chính xác, nhưng vẫn mang dáng dấp nghệ thuật cao. Trang phục nên tề chỉnh, gọn gàng. Trong các dịp giao lưu văn hóa, giới thiệu tài năng, tác phẩm, tác giả hoặc một nhân vật đặc biệt, Xướng Ngôn Viên cần có phong cách ngôn ngữ tự nhiên, lịch sự, pha chút dí dỏm và ngẫu hứng, nhưng tối kỵ không được để lộ ra một sự xếp đặt từ trước. Trang phục có thể tùy nghi, trẻ trung nhưng vẫn cần tề chỉnh. Trong các dịp tổ chức đố vui Giáo Lý tại Giáo Xứ, đố vui để học tại trường học hoặc lên truyền hình như các chương trình Trò Chơi Liên Tỉnh SV 97 ( đại học ), Bẩy Sắc Cầu Vồng ( cấp 3 ), Kính Vạn Hoa ( cấp 2 ), Khu Vườn Cổ Tích ( mẫu giáo ), Đường Lên Đỉnh Olympia... Xướng Ngôn Viên cần có phong cách nghiêm minh, ngôn ngữ chính xác, dứt khoát mà vẫn lịch sự, có thể pha trò trong những trường hợp cần thiết. Trang phục tùy nghi, sao cho hợp với các đối tượng tham dự.Trọng tâm của công việc này là cố gắng làm nổi bật chủ đề chương trình mà những người đứng ra tổ chức muốn gửi gấm. Mặt khác, còn tùy vào tính chất chương trình như đã nêu ở phần trên để chọn phong cách nghệ thuật và khẩu ngữ, hành chánh hay khoa học cho thích hợp. Do vậy, Xướng Ngôn Viên cần soạn vắn tắt bản thuyết biểu diễn sao cho yêu cầu của chủ đề được thể hiện xuyên suốt toàn bộ chương trình, định hướng cảm xúc và thẩm mỹ của khán giả một cách nhẹ nhàng khéo léo.Cũng có thể ứng biến ngẫu hứng, giới thiệu thêm một số thông tin hoặc thời sự bên lề mới nhất, kèm theo một vài ý, một vài câu pha trò duyên dáng làm thu giãn bầu khí.Trong trường hợp Xướng Ngôn Viên là một Linh Hoạt Viên Phụng Vụ hay một Chưởng Nghi trong một nghi lễ tôn giáo, cần soạn một bản hướng dẫn chi tiết: ý nghĩa chung của buổi lễ, ý nghĩa các bài đọc Lời Chúa, các bài Thánh Ca, các lời nguyện cộng đoàn và các nghi thức trang trọng đặc biệt khác ( như đón đoàn chủ tế, rước kiệu hành hương, xông hương, rẩy nước phép, lắc chuông, tắt đèn, thắp nến, đặt tay trao sứ vụ, các tân chức phủ phục, các em học sinh Giáo Lý lên tuyên tín hoặc nhận Bí Tích... ), cần ghi rõ lời mời cộng đoàn tiến lên theo hàng, đứng, ngồi hay quỳ xuống...


I. DẪN NHẬP:

Đọc tiếp ...

CÁC THỂ LOẠI TRÒ CHƠI SINH HOẠT

| |
3. THEO TẦM CỠ DÀN DỰNG:

a. Trò Chơi Nhỏ:

Trò Chơi Nhỏ có thể dùng cho mọi độ tuổi, số người tham dự thường từ 12 tới 36, không kéo dài quá lâu nhưng thay đổi nhanh cứ mỗi 10 phút, từ dạng này sang dạng khác, thỉnh thoảng nên xen kẽ một trò chơi vận động mạnh. Trò Chơi Nhỏ có tính nhất thời, mục đích gây bầu khí hứng khởi thân tình, khởi đầu một kỳ trại, chuẩn bị cho một cuộc họp mặt, một khóa học, dẫn nhập vào tiết dạy Giáo Lý hoặc nằm giữa một chương trình dài để giải lao, thư giãn cho cử tọa. Trò Chơi Nhỏ có thể được thực hiện trong phòng cũng như ngoài trời, dạng sinh hoạt vòng tròn hay ngồi theo các dãy ghế trong lớp, trong hội trường. Do vậy Trò Chơi Nhỏ thường là các trò chơi vận động nhẹ, trò chơi phản xạ,ï trò chơi động não. Tuy nhiên, cũng có thể Trò Chơi Nhỏ là những trò chơi vận động không quá mạnh, không kéo dài, không có tính đối kháng cao như các trò chơi Bịt mắt bắt dê, Nhẩy cừu, Chơi U... Ngoài ra, Trò Chơi Nhỏ cũng có thể dùng làm thành phần cho một trò chơi lớn của các Quản Trò đứng trạm dùng để thử thách các Đội.

a. Trò Chơi Trung:

Trò Chơi Trung có thể dành cho mọi độ tuổi, số người tham dự thường từ 12 tới 36, mỗi trò kéo dài trong khoảng 15 tới 45 phút. Trò Chơi Trung thực hiện được trong phòng lẫn ngoài trời, sau khi đã chơi một số trò chơi nhỏ để hâm nóng bầu khí. Trong một buổi sinh hoạt hay một kỳ trại, chỉ nên chọn không quá 3 Trò Chơi Trung. Trò Chơi luôn luôn được diễn ra xoay quanh một chủ đề, một ý nghĩa cần chuyển tải, được diễn giải bằng một câu truyện, có thể kèm theo một Bài Hát Ý Lực thích hợp để khắc họa tâm tình. Tất cả nhằm đem lại một kết quả cụ thể về huấn luyện một hay nhiều kỹ năng nào đó, và nhất là sẽ mang lại một giá trị sâu xa về giáo dục nhân bản và tâm linh cho cá nhân mỗi người cũng như cho cả tập thể. Trò Chơi Trung thường dùng đến các Phương Pháp Lập Phiếu, Nhóm Ong, Hoạt Động Xưởng, thường phải chia đối tượng tham dự thành nhiều đội, nhiều nhóm cùng thi đua nhưng lại không mang tính đối kháng quyết liệt do không chấm giải nhất, nhì, ba, tư và trao phần thưởng.

b. Trò Chơi Lớn ( Grand Jeu ):

Đây là một trò chơi có thể huy động rất đông người tổ chức và tham dự, chia thành nhiều Đội, nhiều Toán. Thời gian chơi kéo dài, trải qua nhiều chặng, nhiều trạm với các thử thách có tính chất khác nhau, đòi hỏi nhiều chuyên môn, nhiều kỹ năng, nhiều công sức. Nội dung trò chơi mang một ý nghĩa sâu xa dựa vào một chủ đề chính và được chuyển tải thông qua một hình thức phức tạp nhưng hết sức hấp dẫn. Xin xem thêm phần trình bầy chi tiết trong bài 3.

c. Trò Chơi Chiến Dịch:

Đây là một dạng Trò Chơi Lớn thường được dành riêng cho sinh hoạt của Giáo Lý, đòi hỏi Ban Tổ Chức phải chuẩn bị rất kỹ vì huy động tất cả thầy cô và học sinh Giáo Lý cùng phụ huynh các em trong Giáo Xứ. Mỗi Chiến Dịch có thể tiến hành từ 2 tuần tới 2 tháng và đòi hỏi nhiều mặt sinh hoạt và hoạt động khác nhau. Nội dung trò chơi gắn với một chủ đề Giáo Lý, mục đích để giáo dục và rèn luyện cho các em các mặt Tâm Linh, Nhân Bản và Kỹ Năng thông qua các trò chơi sinh hoạt và hoạt động đa dạng, tương đối toàn diện.

d. Trò Chơi Liên Tỉnh ( Interville ):

Trong mấy năm gần đây, đài truyền hình VTV của Việt Nam có mở các chương trình sinh hoạt dành cho sinh viên và học sinh các lứa tuổi trong toàn quốc. Anh Lại Văn Sâm với sự cộng tác của anh Laurent Bosque người Pháp, đã thiết kế các Trò Chơi Liên Tỉnh mang tên SV 97 và đã đạt được thành công ngoài sự mong đợi. Kế tiếp, đã có chương trình 7 Sắc Cầu Vồng dành cho học sinh Phổ Thông, Khu Vườn Cổ Tích dành cho trẻ em Mẫu Giáo, Câu Lạc Bộ những người yêu thích âm nhạc.

Nội dung ở đây có thể xem là sự kết hợp sáng tạo giữa thể loại Đố Vui Để Học xen kẽ với các trò chơi đấu trí, đấu tài, đấu sức mang tính đồng đội, do vậy mà chương trình hết sức lôi cuốn, đã hấp dẫn hàng ngàn bạn trẻ đến dự trực tiếp tại hội trường hay sân vận động có mái che cũng như hàng triệu người trong toàn quốc thông qua màn ảnh nhỏ vào mỗi Chúa Nhật. Yếu tố đem lại thành công không nhỏ đó là người điều khiển chương trình ( Speaker ), một Linh Hoạt Viên đúng nghĩa, đem lại những ý tưởng bất ngờ, lý thú và dí dỏm, làm cho chương trình luôn sinh động sôi nổi.

Hiện nay, tại nhiều Giáo Xứ ở ba miền đã áp dụng thể loại này vào sinh hoạt Giáo Lý, nhưng chỉ mới ở cấp liên khối trong mỗi Giáo Xứ hoặc liên Giáo Xứ trong mỗi hạt. Trong tương lai, nếu có điều kiện, hy vọng sẽ tổ chức được ở cấp Liên Địa Phận. Nội dung thi đấu dành cho giới trẻ và học sinh Giáo Lý gồm:

§ Các kiến thức về Lịch Sử Cứu Độ, Kinh Thánh, Phụng Vụ, Lịch Sử Giáo Hộiï;
§ Các ứng xử nhân bản Ki-tô giáo trong đời sống thường nhật giữa xã hội;
§ Các Bài Thánh Ca, các Bài Ca Ý Lực, các Bài Hát Sinh Hoạt, các Bài Hát Có Cử Điệu;
§ Xen kẽ là các trò chơi tập thể dành cho khán giả tham dự, đầy bất ngờ hấp dẫn mang tính giáo dục và huấn luyện cao, thật sự có ích cho giới trẻ.

e. Trò Chơi Quốc Gia ( National ):

Đây là dạng trò chơi do một đơn vị phong trào cấp tỉnh đứng ra đăng cai tổ chức, mời các tỉnh, các vùng, các miền khác trong nước về tham dự. Một số nơi có truyền thống từ xưa, có Đền, Đình, Chùa, Phủ, Lăng, di tích lịch sử... cũng thường có những ngày Lễ Hội lớn hằng năm với các Trò Chơi Dân Gian. Về đối tượng, có thể giới hạn trong một giới, một độ tuổi nhưng cũng có thể mở rộng cho nhiều giới, nhiều độ tuổi tùy theo tính chất và nội dung trò chơi. Thời gian diễn ra trong khoảng 3 ngày, 1 tuần, lâu nhất là 1 tháng, được một Ban Tổ Chức gồm những người có uy tín lãnh đạo, được nhiều nghệ nhân nổi tiếng cố vấn và nhiều đoàn thể hỗ trợ. Trò chơi mang đậm ý nghĩa phong trào nên có mục đích phát động và phát triển cho phong trào đạt được hiệu quả cao và ích lợi lâu dài, sâu xa. Xin đơn cử các Trò Chơi Dân Gian và Trò Chơi Quốc Gia như:

§ Hội Thi Cờ Người; Võ Vật;
§ Hội Thi Chọi Gà; Chọi Trâu;
§ Hội Đâm Trâu ( của người Dân Tộc );
§ Hội Đua Thuyền ( ở miền Nam );
§ Hội Thi Lê Quý Đôn ( của học sinh Phổ Thông );
§ Hội Thi Săn Ảnh Nghệ Thuật;
§ Hội Thi Thả Diều ( tổ chức hằng năm tại Huế );
§ Hội Thi Vẽ Tranh trên nền sân xi măng;
§ Hội Thi Sáng Tạo Khoa Học Kỹ Thuật;
§ Hội Thi Kèn, Hội Thi Guitare, Hội Thi Đàn Bầu...

f. Trò Chơi Quốc Tế ( International ):

Đây là dạng trò chơi không biên giới do một người hoặc một nhóm người, một tổ chức cấp quốc gia đề xuất và điều hành, có giao lưu hợp tác với nhiều người, nhiều tổ chức tại các nước khác nhau, không giới hạn về thời gian, về độ tuổi tham gia vì nội dung tuy mang đậm tính chuyên môn chuyên sâu nhưng lại trải ra trên một diện hết sức rộng lớn, với đủ mọi hình thức và phương thế giao lưu trao đổi. Khởi sự có thể nhen nhúm từ một nhóm nhỏ, rồi cứ lan dần, mở rộng ra 1, 2 quốc gia rồi có thể phổ biến ra toàn thế giới. Do vậy, hiệu quả của dạng trò chơi này tuy âm thầm và lâu dài, nhưng lợi ích rèn luyện và giáo dục lại hết sức lớn, hấp dẫn lý thú vô cùng.

Xin đơn cử một số Trò Chơi Quốc Tế:
§ Ngân Hàng Trò Chơi;
§ Sưu Tập Tem, Sưu Tập Post Card Du Lịch, Sưu Tập Xâu Chìa Khóa...
§ Du khảo vòng quanh thế giới ( tàu Peace Boat, tàu Nippon Maru SSEAYP của Nhật, tàu Semester At Sea - SAS của Mỹ, tàu SS Universe... )
§ Phong trào xếp giấy Origami Nhật: Ngàn Con Hạc Giấy để kêu gọi hòa bình...

4. THEO ĐIỀU KIỆN KHÔNG GIAN:

a. Trò Chơi Trong Nhà ( In Door ):

Không gian chơi tuy bị giới hạn bởi tường vách và đồ đạc nhưng lại dễ tạo nên bầu khí thân tình. Dẫu sao, không nên tập họp quá đông, gây chật chội, vướng víu và nóng bức ngộp thở.

Ít khi nào Quản Trò lại chọn không gian trong nhà để tổ chức một buổi sinh hoạt thuần tuý các trò chơi, nhưng cốt nhắm đến một sinh hoạt gặp gỡ chiều sâu như: chia sẻ Lời Chúa, học hỏi một đề tài nhân bản, họp phân công chuẩn bị một chuyến đi trại, mừng sinh nhật hay bổn mạng các bạn trong Nhóm, hội thảo với một Huynh Trưởng khách...

Như thế, phần sinh hoạt trò chơi chỉ là phụ, thường đưa ra khi mở đầu, xen kẽ ở giữa và kết thúc để chia tay. Do vậy, chỉ nên dùng các Trò Chơi Vận Động Nhẹ hoặc các Trò Chơi Dùng Phiếu.

Không nên quá kéo dài một trò chơi đến mức nhàm chán, nhưng thay đổi nhanh, từ dạng này chuyển sang dạng khác. Cũng không nên dùng quá nhiều trò mà chỉ cốt gây bầu khí, dẫn vào trọng tâm chủ đề chính buổi gặp gỡ.

b. Trò Chơi Ngoài Trời ( Out Door ):

Không gian chơi rộng và thoáng như: sân chơi của trường học, trong vườn của một ngôi nhà ở thành phố hoặc ở ngoại thành, ở nông thôn, công viên... Nếu là một đất trại, gần gũi với thiên nhiên cây cỏ thì quá tốt. Có thể dùng đến các Trò Chơi Vận Động Mạnh, xen kẽ với các Trò Chơi Vận Động Nhẹ. Nếu là một kỳ trại, có thể đưa ra một Trò Chơi Trung hoặc Trò Chơi Lớn. Nên có một Quản Trò chính và một vài Quản Trò Phụ Tá để luân phiên nhau vừa điều khiển vừa dưỡng sức vì buổi sinh hoạt ngoài trời có thể kéo dài 1 đến 2 giờ. Cần tiên liệu biến báo để duy trì sinh hoạt khi mưa khi nắng, làm chủ nhịp độ và bầu khí khi dồn dập khi thư giãn, không bị đơn điệu nhàm chán hoặc làm cho người tham dự đuối sức mệt mỏi, nhất là đối với các em nhỏ hay các bạn nữ.

c. Trò Chơi Tại Nhà ( At Home ):

Đây là dạng trò chơi có thể kéo dài trong nhiều ngày, nhiều tuần lễ. Ban Tổ chức tập trung phổ biến nội dung, thể lệ, thời hạn rồi phát động cuôc chơi tại một nơi chung như Đoàn Quán, Hội Trường của Giáo Xứ... Sau đó, trò chơi sẽ diễn ra tại nhà riêng của mỗi người tham dự hoặc nơi họp mặt chung của mỗi Đội, mỗi Toán. Tất cả sẽ cố gắng thi đua hoàn thành, nộp cho Ban Tổ Chức để chấm thi, triển lãm có thuyết minh, tổng kết, lượng giá và trao giải. Để điều hành tốt cuộc chơi, Ban Tổ Chức cần có một đội ngũ phụ tá chia nhau đến hỗ trợ mỗi Đội, thúc đẩy tiến độ nhịp nhàng trong sự trung thực tự giác. Dạng trò chơi này khuyến khích phát triển năng lực sáng tạo cá nhân và sự ăn ý tập thể để đạt kết quả chung. Xin đơn cử một số Trò Chơi Tại Nhà:

§ Làm lồng đèn Giáng Sinh hoặc Trung Thu;
§ Thi vẽ tranh, làm Bích Báo theo chủ đề;
§ Sưu tập tem, côn trùng, mẫu đá;
§ Chế tác mẫu đồ chơi mới;
§ Lập Trương Mục Bài Hát, Truyện Kể;
§ Mở Ngân Hàng Trò Chơi...

5. THEO NHU CẦU PHỤC VỤ:

a. Trò Chơi Sinh Hoạt Vòng Tròn:

Sinh hoạt theo dạng mọi người đứng hoặc ngồi theo hình vòng tròn chung quanh Quản Trò là dạng phổ biến và lý tưởng nhất ( thuật ngữ SHO: sinh hoạt Vòng Tròn ). Cần chú ý mấy điểm căn bản sau đây, vốn đã trở thành quy ước chung về sinh hoạt vòng tròn cho mọi nơi, mọi quốc gia:

q Khi cần di chuyển hoặc điểm số trong sinh hoạt, luôn đi theo chiều ngược với chiều kim đồng hồ.
q Quản Trò luôn ở trong vòng tròn, xoay người từ từ hướng về mọi người, vị trí ở giữa hoặc chếch 2/3 về một phía, để mọi người có thể nghe và thấy được mình.
q Các trò chơi Sinh Hoạt Vòng Tròn thường đi kèm với các Bài Hát Có Cử Điệu.
q Chú ý cho vòng tròn điểm số chẵn-lẻ hoặc 1, 2, 3 từ đầu cho đến hết để nắm chắc số người tham dự, dễ biến báo, tạo bầu khí thân tình, vui tươi và sống động.

b. Trò Chơi Sinh Hoạt Thi Đua:

Vì là thi đua nên phải chia ít là thành 2 bên, sẽ đấu với nhau tổng cộng là 3 hoặc nhiều nhất là 5 lượt ( số lẻ lượt ) để lấy tỷ số thắng-bại. Tuy vậy, tùy theo tính cách trò chơi, có thể dừng lại ở tỷ số hòa nhau thì vui hơn. Dạng trò chơi này thường là ở ngoài trời, nhưng đôi khi cũng tổ chức được trong nhà, miễn là không gian đủ rộng để di chuyển hay chạy nhảy cho thoải mái. Quản Trò cần chú ý mấy điểm sau đây:

q Không nên lấy Đội hay Nhóm có sẵn để chia, vì dễ gây ra ganh đua cục bộ. Cũng không nên chia thành 2 phe nam-nữ hoặc già-trẻ. Ngược lại, nên cho điểm số, dùng cách chia chẵn-lẻ tự nhiên.
q Khi đã chia đều số người ở 2 bên, Quản Trò có thể nhờ thêm những bạn dư ra để làm trọng tài hỗ trợ mình. Cần công minh, không thiên vị một bên nào để tránh sự tranh cãi đôi co, mất vui lúc đó và sau này.
q Thắng-bại trong trò chơi chỉ là tương đối, cốt đem lại niềm vui chung. Do vậy, không nên tính nhất-nhì, nhưng dùng phần thưởng chính là một trò chơi Thưởng-Phạt.
q Sau khoảng 2, 3 trò chơi dạng Thi Đua, nên trở lại dạng Sinh Hoạt Vòng Tròn, xóa nhòa mọi ấn tượng hơn-thua để vẫn duy trì bầu khí thân tình.

c. Trò Chơi Sinh Hoạt Thân Hữu:

Nhân một buổi họp mặt mừng sinh nhật hoặc mừng lễ đặc biệt của một người hay một Nhóm, khách dự là người ở đủ mọi lứa tuổi đều ăn mặc diện và đẹp, không tiện chạy nhảy. Do vậy, hầu hết đều chỉ dùng các Trò Chơi Trong Nhà ( in door ). Bầu khí mở đầu hoặc tiếp nối sau một bữa ăn nhẹ, rất cần các trò vui nhộn, đấu tài, đấu trí chứ không đấu sức. Quản Trò có thể đưa ra các Trò Chơi Dùng Phiếu hoặc các Trò Chơi Vận Động Nhẹ, nên cần chuẩn bị trước một số giấy và bút, khăn quàng, nến, phấn, các món quà nho nhỏ gói kín gây bất ngờ và để lại những kỷ niệm vui bên nhau...

d. Trò Chơi Sinh Hoạt Cao Điểm:

Bất cứ một buổi họp mặt mang tính truyền thống hoặc tôn giáo nào cũng đều cần được các Linh Hoạt Viên gây dựng bầu khí ( warming-up ) ngay từ lúc mở đầu, và cứ thế duy trì thật tốt trong suốt buổi. Ngoài ra, khi trong Nhóm chuẩn bị chia tay, tiễn một bạn, một sứ vụ mới ( một Tráng sinh Lên Đường; mừng một Trưởng nhận Bằng Rừng; mừng một Tân Linh Mục... ), có thể tổ chức một nghi thức trong đó chỉ cần có một Trò Chơi Sinh Hoạt Phục Vụ là đủ. Khi đến thời điểm kết thúc ( chia tay, lưu niệm, cầu nguyện... ), cần nâng bầu khí chung lên thành một đỉnh cao đầy ý nghĩa và ấn tượng sâu lắng.

e. Trò Chơi Sinh Hoạt Phục Vụ:

Trò chơi được đề ra với một mục đích rõ ràng là để gây quỹ cho nội bộ sinh hoạt của Nhóm hoặc quỹ phục vụ cho công việc từ thiện xã hội ( Ví dụ: Tổ chức Bán Đấu Giá; Quyên góp vật phẩm cứu trợ ). Ngoài ra, đôi khi trò chơi có dạng như một Trò Chơi Chiến Dịch nhưng lại không hẳn nhắm vào chiều sâu tôn giáo mà là hướng ra chiều xa, chiều rộng của việc “giúp ích”, phục vụ xã hội một cách vô điều kiện. Xin đơn cử một số ví dụ đã thực hiện trong thực tế:

q Các Toán Tráng Hướng Đạo bắc các nhịp cầu tre và giây thay cho cầu khỉ ở các vùng nông thôn nghèo.
q Chiến Dịch Ánh Sáng Văn Hóa dịp hè cho các vùng ven, vùng ngoại thành, vùng sâu, vùng xa.
q Các soeurs Dòng Saint Paul de Chartres ( SPC ) Đà Nẵng tổ chức đội quân gần 300 chị thu nhặt rác tại La Vang trong dịp Đại Hội Thánh Mẫu kỷ niệm 200 năm tháng 8 năm 1998.

f. Trò Chơi Sinh Hoạt Giáo Dục:

Đây là một dạng Trò Chơi Lớn huy động đông người cùng giới, cùng độ tuổi tham gia đồng loạt trong một thời gian tương đối dài. Đối với sinh hoạt và hoạt động Giáo Lý, đó là một Trò Chơi Chiến Dịch. Đối với ngành Giáo Dục, đó là một cuộc chơi đậm tính giáo dục nhân bản hết sức lôi cuốn. Xin đơn cử một ví dụ ở Nhật Bản: Ngày khai giảng đầu niên khóa mỗi năm, mỗi thành phố lớn như Tokyo đều tổ chức trò chơi Báo Động Giả, thực tập di tản học sinh khi có nạn động đất hoặc sóng thần.

g. Trò Chơi Thưởng-Phạt:

Đa số các trò chơi sinh hoạt đều đưa tới một kết thúc có bên thắng, bên bại, có người bị phạt hay được thưởng. Để bầu khí vẫn tiếp diễn vui tươi và sinh động, Trò Chơi Thưởng-Phạt sẽ giúp cho bên thua hay người bị phạt không cảm thấy “quê”, vừa được khích lệ sẽ chơi hay hơn trong dịp khác và trong trò chơi khác, lại vừa thấy lý thú khi được tập thể “thưởng” cho một Trò Chơi Phạt !

Ngược lại, bên thắng và người được thưởng thường được tập thể “phạt” bằng một Trò Chơi Thưởng ! Cái khéo của người Quản Trò hay Linh Hoạt Viên là biết đề nghị một Trò Chơi Thưởng-Phạt sao cho mọi người đều nhiệt liệt hưởng ứng. Muốn thế, dù là thưởng hay phạt, Quản Trò cần lưu ý mấy điểm quan trọng sau đây:

§ Phải là một trò chơi đúng nghĩa, nghĩa là hội đủ 3 yếu tố: Gây dựng bầu khí – Rèn luyện kỹ năng – Giáo dục chiều sâu.
§ Không nên lợi dụng để “đì” một Đội hay một cá nhân, biến họ thành trò cười cho mọi người.
§ Trò chơi phải hợp với khả năng, vừa với sức lực của người chịu phạt hay được thưởng. Nếu họ đã cố gắng mà không xong thì đừng bắt làm đi làm lại, nhưng mời gọi mọi người hoan hô tinh thần và... tha cho họ về chỗ. Sau đó, chuyển ngay sang một trò chơi sinh hoạt khác.
Lm. LÊ QUANG UY, DCCT, trích NỐI LỬA CHO ĐỜI số 1

Đọc tiếp ...